Giãn dây chằng là bệnh có thể bắt gặp ở mọi đối tượng đặc biệt là những vận động viên thể thao hay người lao động quá sức. Căn bệnh này gây ra những tổn thương nguy hiểm tới sức khỏe và sinh hoạt nếu như người bệnh không có phương pháp điều trị đúng cách.
Giãn dây chằng là gì?
Dây chằng là bộ phận tổng hợp các phân tử collagen tạo thành một dải các mô sợi, các mô sợi này liên kết chặt chẽ với nhau, cứng và có độ đàn hồi tốt. Nhiệm vụ chính của dây chằng là kết nối các khớp xương với nhau, liên hệ với khớp để cố định vào bảo vệ đầu khớp.
Cơ thể con người có hàng trăm loại dây chằng khác nhau phân bổ ở các vị trí như đầu gối, cổ tay, khớp háng, lưng, cổ và vùng khớp vai. Tuy hình thù, kích thước của dây chằng ở từng vị trí khác nhau nhưng khi có những tác động mạnh chúng đều bị tổn thương hay nói cách khác là giãn dây chằng.
Giãn dây chằng biểu hiện là tình trạng cơ bị kéo căng quá mức và không dứt hoàn toàn tạo ra các cơn đau nhức dữ dội. Vị trí tổn thương thường có dấu hiệu sưng to lên, hạn chế khả năng vận động, khiến khớp xương của người bệnh trở nên lỏng lẻo hơn, thậm chí kể cả khi đã khỏi bệnh.
Nguyên nhân giãn dây chằng phổ biến
Các nguyên nhân gây ra hiện tượng giãn dây chằng đều chủ yếu là do những tổn thương cơ học. Người bệnh thường xuyên gặp những chấn thương do tính chất công việc, hoạt động thể thao hoặc do bệnh lý xương khớp.
Do quá trình lão hóa
Tuổi tác càng cao đồng nghĩa với việc lão hóa trong cơ thể diễn ra càng ngày càng mạnh mẽ. Điều này khiến con người đứng trước nguy cơ mắc nhiều bệnh lý về xương khớp khác nhau khiến cơ bắp và dây chằng bị mất dần chức năng.
Quá trình lão hóa cũng khiến cho khớp xương không còn linh hoạt dẻo dai như trước nữa do các dưỡng chất dần bị mất đi. Chỉ cần một tác động nhỏ hay va chạm nhẹ cũng khiến giãn dây chằng.
Tính chất công việc
Những người thường xuyên phải làm những công việc nặng như khuân vác, bưng bê cần sức khỏe cơ bắp sẽ dễ bị giãn dây chằng. Tình trạng này diễn ra thường xuyên khiến cho dây chằng phải kéo giãn liên tục và chịu sức căng quá mức, dần dần sẽ khiến gây nên hiện tượng giãn dây chằng.
Gặp chấn thương và tai nạn
Trong quá trình lao động, người bệnh gặp phải những chấn thương do té ngã, va đập mạnh hoặc tai nạn giao thông khiến các khớp xương bị tổn thương quá mức và làm dẫn đến hiện tượng viêm khớp và trật khớp.
Ngoài ra, trong quá trình luyện tập thể thao hoặc những vận động viên chuyên nghiệp chơi những bộ môn va chạm mạnh gây ra chấn thương không mong muốn. Một số bộ môn khác như đẩy tạ, điền kinh, tennis cũng có thể gây ra hiện tượng căng cơ và hiện tượng giãn dây chằng.
Nguyên nhân bệnh lý
Đối tượng có tiền sử mắc các bệnh lý liên quan đến xương khớp như viêm khớp dạng thấp, viêm khớp nhiễm khuẩn đặc biệt ở vị trí khớp gối sẽ làm tổn hại đến dây chằng.
Phân loại vị trí giãn dây chằng thường gặp
Hầu hết các vị trí trên cơ thể người đều có sự xuất hiện của dây chằng từ kích thước lớn đến rất nhỏ. Tuy nhiên khớp gối, cổ tay, lưng, bả vai là nơi thường chịu nhiều tác động nhất nên cũng là thường xuyên bị giãn dây chằng.
Giãn dây chằng đầu gối
Khớp gối là nơi đảm nhận thực hiện các hoạt động của con người như đi đứng, chạy nhảy, ngồi,... và chịu sức nặng cả phần thân trên cơ thể. Khớp gối có cấu trúc khá phức tạp, bao gồm xương lồi cầu đùi, xương bánh chè, lớp sụn bao đầu xương, hệ thống cơ, gân và hệ thống các dây chằng.
Dây chằng tại khớp gối cũng có nhiều loại từ dây chằng chéo trước, sau đến dây chằng bên ngoài và dây chằng bên trong. Theo thống kê, có khoảng 70% những người gặp chấn thương trong thể thao đều liên quan đến vị trí giãn dây chằng đầu gối và do dây chằng chéo trước, giãn dây chằng chéo sau gây ra.
Tuy nhiên, các kết quả chẩn đoán thông thường lại không phát hiện ra nguyên nhân này nên thường bị người bệnh xem nhẹ. Điều này hết sức nguy hiểm vì nếu không được điều trị kịp thời có thể làm biến chứng tổn thương phần sụn chêm và gây ra thoái hóa.
Giãn dây chằng cổ tay
Cấu tạo cổ tay chủ yếu gồm xương nhỏ và hệ thống dây chằng. Khi người bệnh thực hiện các động tác quá khó, xoay bàn tay quá mức hay dùng tay chống đỡ toàn bộ cơ thể có thể dẫn đến hiện tượng giãn dây chằng.
Triệu chứng khi đó thường là những cơn đau nhức kèm theo sưng tấy ở cổ tay. Nêu không điều trị dứt điểm và có biện pháp phòng ngừa có thể làm suy yếu chức năng cổ tay, chức năng vận động và dẫn đến thoái hóa khớp.
Giãn dây chằng thắt lưng
Hệ thống dây chằng vùng thắt lưng có cấu tạo bao quanh khớp xương ở đốt sống lưng, từ đó giúp cố định và bảo vệ đầu khớp bởi các tác động bên ngoài. Nguyên nhân gây ra giãn dây chằng thắt lưng chủ yếu do người bệnh vận động sai tư thế hoặc làm quá sức khiến dây chằng bị kéo giãn bất thường.
Triệu chứng giãn dây chằng thắt lưng biểu hiện ở hai mức độ chính là đau nhẹ sau vài ngày thì tự biến mắt và những tổn thương nặng gây nguy hiểm cho sức khỏe. Đặc biệt, mỗi khi thời tiết chuyển mùa sẽ khiến cơn tê buốt và đau nhức tăng lên, làm suy giảm chất lượng cuộc sống.
Giãn dây chằng bả vai
Hiện tượng giãn dây chằng bả vai thường xuất hiện khi hai đầu nối của xương khớp vai bị co giãn quá mức gây đau nhức và khó chịu. Nguyên nhân chính là do người bệnh vận động sai tư thế hoặc mang vác các vật nặng quá mức làm đè nén lên khớp vai.
Tình trạng này diễn ra trong một thời gian dài mà không có phương pháp điều trị có thể làm tăng nguy cơ mắc các bệnh về xương khớp..
Giãn dây chằng có nguy hiểm không?
Giống như các bệnh lý xương khớp khác, nếu người bệnh không có phương pháp điều trị kịp thời sẽ gây ra nhiều biến chứng nguy hiểm.
Khi dây chằng bị co giãn quá mức khiến cho cấu trúc xương trở nên lỏng lẻo và không còn bền vững nữa. Điều này gây ra mối tương quan động học của xương bị thay đổi, quá trình truyền lực và phân phối lực cho toàn cơ thể bị mất cân bằng.
Từ đó, người bệnh càng tăng nguy cơ mắc các bệnh lý như viêm khớp, thoái hóa khớp, thoát vị đĩa đệm. Trường hợp nguy hiểm hơn có thể dẫn tới bại liệt, hoại tử xương và ung thư xương.
Theo nghiên cứu từ Viện nghiên cứu sức khỏe Mỹ (AHRI) trên 5000 bệnh nhân bị giãn dây chằng đã cho kết quả:
- 10% người bệnh nặng gây ra biến chứng thoái hóa, viêm khớp, đứt dây chằng
- 6% người bệnh bị bại liệt, hoại tử xương và 2/5000 trường hợp mắc ung thư xương
Do đó bất kỳ người bệnh dù ở mức độ nào cũng không nên chủ quan mà cần có phương pháp điều trị kịp thời.


